QUANG TRUNG HOÀNG ĐẾ - NGƯỜI ANH HÙNG ÁO VẢI LỪNG LẪY VÀ ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN KỶ DẬU

 Vào ngày mùng 5 Tết Kỷ Dậu (30/01/1789), đại quân Tây Sơn do Quang Trung Hoàng đế chỉ huy tiến vào Thăng Long, đại thắng 20 vạn quân Thanh. Chiến thắng lẫy lừng này đã mang lại không ít khoái cảm, phấn khích và tự hào cho nhiều thế hệ. Từ đó phát sinh nhiều giai thoại về đội quân Tây Sơn rất hùng tráng và lãng mạn, trong số đó có câu chuyện tuy hư cấu song đầy lãng mạn “Cành đào Nguyễn Huệ”.
Chuyện kể rằng: hoa đào hoàng thành năm ấy nở rộ, rực rỡ như tô điểm cho chiến công của vị Hoàng đế lừng lẫy. Quang Trung thấy vậy nên chọn cành đào Nhật Tân đang nụ, sai người mang vào Phú Xuân tặng “Công chúa” Ngọc Hân. Cành đào được buộc chéo bằng lạt giang mềm, ngoài phủ gấm vàng, kỵ sĩ quỳ xuống nhận khẩu dụ rồi lập tức lên đường. Khoái mã thay chục con, dịch thừa đua nhau hỏa tốc chuyển cành đào vào Nam, chỉ hai ngày sau; ngày mùng 7 tháng Giêng là đã đến tay vợ yêu.

Nhà thơ Chế Lan Viên (1920-1989) lúc còn sinh thời có sáng tác một bài thơ có tựa “Cành đào Nguyễn Huệ”, nội dung như sau:
Hẳn nhớ Thăng Long hẳn nhớ đào
Mai vàng xứ Huế có khuây đâu
Đào phi theo ngựa về cung nhé
Nở cạnh đài gương sắc chiến bào
Tuy câu chuyện trên là hư cấu, song rõ ràng “cành đào Nguyễn Huệ” là một giai thoại văn học điểm tô cho cái gọi là mối tình “Anh hùng sánh với giai nhân” của Quang Trung Hoàng Đế.
1. Dân chẳng thờ sai ai bao giờ.
Trong bài thơ Lịch sử nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ca ngợi Quang Trung là người “phi thường”, có “chí cả mưu cao”, là hoàng đế kiệt xuất của lịch sử dân tộc. Điều này thêm lần nữa khẳng định rằng, Hoàng đế Quang Trung không những là một trong những vị tướng lĩnh quân sự xuất sắc bách chiến bách thắng, mà còn là một vị hoàng đế xuất chúng, người đã đưa ra nhiều chính sách cải cách kinh tế, xã hội nổi bật trong lịch sử Việt Nam.
Chỉ đáng tiếc, sau 20 năm liên tục chinh chiến và 3 năm trị nước, khi tình hình đất nước bắt đầu có chuyển biến tốt thì Quang Trung đột ngột qua đời ở tuổi 39, để lại tiếc thương lớn lao cho nhân dân Đại Việt.
a. Vị hoàng đế lừng lẫy sau khi qua đời lại bị hắt nước bẩn vào người.
Có người ca ngợi Nguyễn Ánh tài năng và cũng kiệt xuất, bởi Nguyễn Ánh là đối thủ của Quang Trung. Sai! Nguyễn Ánh không phải là đối thủ của Quang Trung lừng lẫy, ông ta chỉ là một người rất giỏi chạy trốn. Và sự thật, đối thủ mà Nguyễn Ánh đánh thắng chỉ là Quang Toản, con trai Quang Trung và lên ngôi kế vị lúc 9 tuổi, triều đình nhà Tây Sơn lúc ấy còn lâm vào mâu thuẫn nội bộ. “Cõng rắn gắn gà nhà” để chiến thắng một đứa bé 9 tuổi thì có gì phải tự hào?
Người ta còn truyền khẩu câu chuyện đối đáp, khi nữ tướng Bùi Thị Xuân bị bắt, Nguyễn Ánh bèn sai người áp giải bà đến trước mặt rồi hỏi với giọng đắc chí: “Ta và Nguyễn Huệ ai hơn?”. Bùi Thị Xuân trả lời:
“Chúa công ta (chỉ Nguyễn Huệ), tay kiếm tay cờ mà làm nên sự nghiệp. Trong khi nhà ngươi thì đi cầu viện ngoại bang, hết quân Xiêm đến quân Tàu làm tan nát cả sơn hà, cũng đều bị chúa công ta đánh cho không còn manh giáp. Đem so với chúa công ta, nhà ngươi chẳng qua chỉ là nước vũng so với ao trời. Còn nói về đức độ, thì Tiên đế ta lấy nhân nghĩa mà đối xử với kẻ trung thần thất thế, như đã đối với Nguyễn Huỳnh Đức, bề tôi của nhà ngươi. Còn ngươi lại dùng tâm của kẻ tiểu nhân mà đối với bậc nghĩa liệt, đã hết lòng vì chúa, chẳng nghĩ rằng ai có chúa nấy, ái tích kẻ tôi trung của người cũng là khuyến khích tôi trung của mình. Chỗ hơn kém rõ ràng như ban ngày và đêm tối. Nếu Tiên đế ta đừng thừa long (qua đời) quá sớm, thì dễ gì nhà ngươi trở lại đất nước này.”
Sau khi chiến thắng nhà Tây Sơn, Nguyễn Ánh bắt đầu công cuộc trả thù tàn khốc và man rợ của mình. Ví như cho xử lăng trì, cho voi giày ngựa xéo … con cháu và các tướng lãnh trung thành nhà Tây Sơn. Lăng mộ của vua Thái Đức và vua Quang Trung bị quật lên, hài cốt bị giã nát, đầu bị quăng vào những nơi ô uế, bài vị vợ chồng Quang Trung Hoàng đế bị giam trong ngục tối.
Nguyễn Ánh giải thích cho hành động này của mình là để trả thù, nhiều Sử gia như Dũng Phan khi biện minh cho nhà Nguyễn cũng có nói Nguyễn Ánh sở dĩ tàn độc như thế khi nhận định Quang Trung là người gây tội nghiệt trước. Nhưng rất nhiều ý kiến cho rằng việc Quang Trung cho phá lăng tẩm chúa Nguyễn là do sử quan thời Nguyễn cố ý gán ghép, thiếu bằng cứ xác đáng.
Đáng buồn là có rất nhiều đứa trẻ tin vào điều này, thậm chí còn hơn thế, chúng khăng khăng cho rằng đó là sự thật.
Không hiểu nổi tư duy về lịch sử của nhiều đứa trẻ bây giờ như thế nào nữa. Đọc được đâu dăm “câu chuyện lịch sử” nghe có vẻ lạ lạ, thế là tin sái cổ, tự cho mình am hiểu hơn người thường, vì biết “những bí mật ít người biết”.
Chúng nó nói sở dĩ Nguyễn Ánh trả thù tàn tệ Quang Trung và nhà Tây Sơn như thế, là do Quang Trung gây ác trước, từng cho người quật mộ nhà Nguyễn, tàn phá lăng tẩm 9 đời chúa Nguyễn. Mình có hỏi: “Dẫn chứng ở đâu mà nói bậy thế?”
Và thế là nó dẫn một bài báo của VTC ra, mà trong bài ấy tay Sử gia Võ Hương An đi dẫn nguồn Đại Nam thực lục, một cuốn sách do Nguyễn Ánh cho biên soạn để kết tội Quang Trung.
Từ Sử gia ngáo kiến thức đến đám fan ngu dốt. Hư cấu thì nói là hư cấu, thuyết âm mưu thì nói là thuyết âm mưu, nhận định cá nhân thì nói là nhận định cá nhân. Đằng này, chúng nó muốn nâng tầm bản thân, dám nói là lịch sử, rồi đầu độc cả một thế hệ trẻ.
Trong luật học hiện đại có cái gọi là “Giả định vô tội”, muốn nhận định điều gì hay muốn kết tội ai cần có bằng chứng thuyết phục. Một khi chưa có căn cứ rõ ràng, làm ơn ngậm miệng để suy luận của mình ở trong lòng, hoặc đưa ra dưới luận điểm cá nhân. Đã ngu dốt, làm ơn đừng nâng những thứ ấy ra làm lịch sử.
Mình không dám khẳng định Quang Trung chắc không làm điều chúng nó tố cáo, nhưng mình tin ở khí phách của ông, hẳn sẽ không làm điều này. Và mình không tin lắm ở một cuốn sách của kẻ hết rước quân Xiêm, bợ quân Thanh lại cầu cạnh Pháp như Gia Long biên soạn. Nguyễn Ánh ý đồ bán nước rõ ràng, thậm chí nhiều lần, chỉ là vì có sự xuất hiện của Quang Trung nên chưa bán thành công mà thôi.
Người ta có nói: Lịch sử do người chiến thắng viết lại. Không hẳn, trừ khi giết chết hết được sĩ phu trong thiên hạ. Gia Long chưa bao giờ xứng tầm là đối thủ của Quang Trung Hoàng đế. Vậy nên trong cuộc chiến, Nguyễn Huệ bị bại bởi trời, không thua bởi Nguyễn Ánh.
Đúng là các lăng mộ chúa Nguyễn đã bị phá hủy vào thời kỳ đó, nhưng Phú Xuân vào giai đoạn 1781-1785 từng thuộc sự kiểm soát của quân chúa Trịnh, rồi sau đó lại chiến sự liên miên, có rất nhiều các nhóm thổ phỉ chuyên đào mộ để cướp của, nên chưa thể quy trách nhiệm cho quân Tây Sơn nếu chỉ dựa vào ghi chép của Đại Nam thực lục.
Rất có thể các sử quan nhà Nguyễn đã dựa vào một việc có thực (lăng tẩm chúa Nguyễn bị phá) rồi cố ý gán trách nhiệm cho quân Tây Sơn, nhằm bào chữa cho việc Nguyễn Ánh trả thù nhà Tây Sơn tàn khốc sau này, cũng như để hạ uy tín của nhà Tây Sơn trong nhân dân.
Ngoài ra, Gia Long tiếp tục các hoạt động tuyên truyền “xét lại lịch sử” với âm mưu đổi trắng thay đen, hắt chậu nước bẩn lên vị anh hùng dân tộc. Thế là từ đó cuộc đời Quang Trung được tô vẽ không trung thực qua các bộ Sử, triều đình nhà Nguyễn tìm nhiều cách xóa bỏ uy tín của Quang Trung như phá bỏ đền thờ, cấm người dân thờ cúng, truy lùng các bề tôi, con cháu của Quang Trung...
Nhà Nguyễn cũng hư cấu các tình tiết mang dụng ý bêu xấu và gọi ông là “giặc” trong các tài liệu triều đình. và thế là do thiếu hiểu biết nên không ít sử gia cận đại, hiện đại và cả trong văn học dân gian cũng có nhiều sự tích không đúng về vị Hoàng đế lẫy lừng.
b. Nhưng dân chẳng thờ sai ai bao giờ.
Bất chấp những luận điệu xuyên tạc, ký ức về các chiến công của Hoàng đế Quang Trung vẫn được những người mến mộ ông truyền tụng suốt hàng trăm năm.
Khi Quang Trung mất, nhân dân nhiều nơi đã xây lăng, lập đền thờ, dựng tượng đài và bảo tàng để tưởng nhớ công lao của ông. Dù bị nhà Nguyễn ngăn cấm, đập phá nhưng càng đập phá, số đền thờ mà người dân lập cho Quang Trung vẫn nhiều hơn hẳn số đền thờ dành cho các vua nhà Nguyễn, điều đó cho thấy sự ủng hộ và hoài niệm lớn lao của nhân dân về triều đại do vua Quang Trung cai trị.
Ngày nay, Quang Trung Nguyễn Huệ được trả về đúng vị thế của một anh hùng dân tộc Việt Nam. Rất nhiều trường học và đường phố ở các địa phương được đặt các tên Quang Trung và Nguyễn Huệ, riêng ở Thành phố Hồ Chí Minh có một đường hoa và cũng là phố đi bộ mang tên Nguyễn Huệ.
Dân chẳng thờ sai ai bao giờ, đúng không?
2. Tầm vóc và khí phách của vị Hoàng đế lẫy lừng
Đã có rất nhiều người viết về các chiến công của vị anh hùng áo vải lẫy lừng ấy, vậy nên bài viết này tôi chỉ đề cập đến những thành tựu mà không phải ai cũng biết.
a. Mạnh dạn mở cửa, tiếp thu các thành quả khoa học kỹ thuật của phương Tây.
Với nhãn quan tiến bộ, chỉ trong 3 năm, Quang Trung đã liên tiếp đề ra nhiều kế hoạch cải cách tiến bộ trong kinh tế, văn hóa, giáo dục, quân sự,... nhằm xây dựng đất nước và tiếp thu khoa học kỹ thuật hiện đại từ phương Tây. Đây được xem là một bước tiến quan trọng nhất, thể hiện tầm nhìn sâu rộng của vị Hoàng đế lẫy lừng, mà nếu điều đó được duy trì thì nước Đại Việt ta khả năng sẽ trở thành một đế quốc gầm ra lửa.
Quân đội Tây Sơn dưới thời Quang Trung được trang bị hiện đại, vũ khí có nhiều loại, có loại được cải tiến như hỏa hổ (một loại ống phun lửa), có cả súng trường, đại bác. Hải quân Tây Sơn rất mạnh với nhiều loại tàu chiến, loại lớn chở được cả voi, trang bị từ 50 đến 60 khẩu đại bác, chở được từ 500 đến 700 lính – được đánh giá còn mạnh hơn cả Hải quân nhà Nguyễn sau này.
Chỉ đáng tiếc sau này khi cầm quyền, Gia Long Nguyễn Ánh đã xóa bỏ đi tất cả các cải cách tiến bộ của Quang Trung. Chẳng những vậy, Nguyễn Ánh vì để chối tội danh “cõng rắn cắn gà nhà” nên quyết định học theo nhà Thanh “bế quan tỏa cảng” hoàn toàn với phương Tây. Từ đó Đại Việt ta chính thức trở thành một nước phong kiến lạc hậu, trong khi quân Pháp đã kịp đặt tai mắt rải khắp nước Việt. Khi Pháp nổ súng tấn công Việt Nam, nước ta nhanh chóng thất thủ.
b. Những cải cách mang tính đột phá
Về nhân sự, thời điểm Quang Trung xuống chiếu cầu hiền và trọng dụng nhiều nhân tài như Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Thiếp, Phan Huy Ích, Nguyễn Huy Lượng... chính là sự mở màn của một “dấu hiệu thịnh trị” vĩ đại của dân tộc Việt. Chỉ đáng tiếc cho một nhân tài lừng lẫy đã qua đời quá trẻ, khi sự nghiệp hẵng còn dang dở.
Về giáo dục, ông cải tiến thi cử theo hướng thiết thực và ban hành chính sách khuyến học, khuyến khích dùng chữ Nôm thuần Việt thay cho chữ Hán để nêu cao tinh thần dân tộc, sắp xếp lại chùa chiền dư thừa và bài trừ mê tín dị đoan.
Về kinh tế, ông cải cách chế độ đinh điền và ruộng đất, khuyến khích thủ công nghiệp, mở rộng ngoại thương với phương Tây.
Trong cuốn “Viện Sử học”, tập 4 có nói rõ hơn về những cải cách mang tầm chiến lược của vua Quang Trung. Giới sử học nước ta đánh giá rất cao những cải cách này bởi chúng mang xu hướng rất tiến bộ và vượt trên các nước châu Á đương thời, có thể đưa đất nước thoát khỏi sự trì trệ đã kéo dài trên 100 năm của chế độ phong kiến thời Trịnh - Nguyễn. Đến tận mãi sau này (năm 1822), Hoa kiều từng sống ở Huế dưới thời Tây Sơn vẫn còn hoài niệm về sự cai trị của Quang Trung Nguyễn Huệ, họ nhận xét với thương gia người Anh cho rằng Quang Trung cai trị ôn hòa và công bằng hơn các vua Gia Long và Minh Mạng.
Trong cuốn: Ngô Thì Nhậm, con người và sự nghiệp, NXB Ty văn hóa - thông tin Hà Tây năm 1974 có ghi chép về khí phách vượt bậc của Hoàng đế Quang Trung. Đó là về mặt đối ngoại, Quang Trung tỏ rõ tham vọng vượt xa các vị vua khác trong lịch sử Việt Nam. Ông là vị vua Đại Việt duy nhất đã xúc tiến việc giành lấy tỉnh Quảng Tây của Trung Quốc để mở rộng lãnh thổ cho Đại Việt, cũng là hoàng đế Đại Việt duy nhất có đủ khí phách để chủ động cầu hôn với một công chúa Trung Hoa, để thông qua đó ép vua Càn Long của Trung Quốc cắt tỉnh Quảng Tây, nếu không được thì sẽ dùng quân sự đánh chiếm.
Sau khi thắng trận, mặc dù Quang Trung đã chịu nhún nhường cho thế thân sang phục mệnh nhà Thanh. Vua Càn Long, vị vua nổi tiếng với Thập toàn võ công trong thời cực thịnh của nhà Thanh cũng phải đánh giá rất cao tài năng của Quang Trung.
Xin nhắc lại lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Quang Trung là người “phi thường”, có “chí cả mưu cao”, là hoàng đế kiệt xuất của lịch sử dân tộc Việt Nam.

ĐĂNG BÌNH LUẬN

Mới hơn Cũ hơn