Vai trò của Liên Xô Trong cuộc chiến tranh Việt Nam

 

Trong kế hoạch chiến tranh của mình chống lại Mỹ và chế độ Sài Gòn, các nhà lãnh đạo Bắc Việt Nam xem sự ủng hộ mạnh mẽ của phe xã hội chủ nghĩa “là một điều kiện quan trọng cho thắng lợi của Cách mạng Việt Nam”.
Trong bài diễn văn tháng 4 năm 1965 vạch ra những nhiệm vụ mà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải đối mặt sau khi Mỹ bắt đầu ném bom miền Bắc, Phạm Văn Đồng đã nhấn mạnh rằng người Việt Nam “càng được phe xã hội chủ nghĩa ủng hộ và giúp đỡ trên tất cả mọi lĩnh vực, chủ nghĩa ủng hộ và giúp đỡ trên tất cả mọi lĩnh vực, thì họ càng có khả năng giành thắng lợi mạnh mẽ và quyết định”trước những kẻ thù của họ.
Một năm sau đó, Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa một lần nữa nhấn mạnh tầm quan trọng của viện trợ xã hội chủ nghĩa: “những thắng lợi”của nhân dân Việt Nam không chỉ là kết quả nỗ lực riêng của họ mà còn là của sự thông cảm, sự giúp đỡ và viện trợ vô bờ bến của các nước xã hội chủ nghĩa anh em”.

Đây không phải chỉ đơn giản là tuyên bố mang tính công thức của Hà Nội mà là một đòi hỏi khách quan của tình hình Việt Nam, mà ngay cả những nhà quan sát không có thành kiến cũng ghi nhận sự thật này trong cuộc nói chuyện của họ với các quan chức Liên Xô. Chẳng hạn, Phó trưởng đoàn Ba Lan tham dự Ủy ban kiểm soát quốc tế về Việt Nam, đã nói với một nhà ngoại giao Liên Xô ở Campuchia rằng: thắng lợi ở miền Nam Việt Nam không chỉ phụ thuộc vào người Việt Nam hoặc người Mỹ mà còn vào sự ủng hộ của các nước từ bên ngoài.


Tại Bắc Việt Nam, nhu cầu về viện trợ quân sự và kinh tế từ các nước xã hội chủ nghĩa khác xuất phát từ nền kinh tế lạc hậu chỉ có khả năng sản xuất những trang thiết bị nhỏ cho quân đội. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phụ thuộc vào các nước khác để có được tất cả vũ khí hạng nặng và hầu hết các vũ khí nhỏ và đạn dược. Việt Nam không thể tự cung cấp vũ khí tinh xảo nhất, như máy bay siêu thanh, tên lửa và rađa hoặc số lượng đầy đủ ngay cả những vũ khí đơn giản hơn. Trong khi đó cuộc chiến tranh chống lại một kẻ thù hùng mạnh như “đế quốc Mỹ”đòi hỏi hậu cần phải vững chắc có khả năng cung cấp mọi phương tiện để giành chiến thắng trong cuộc chiến tranh. Và cần thiết phải nuôi quân và dân cũng như sửa chữa lại những thiệt hại do không kích Mỹ gây ra.
Không nghi ngờ gì Hà Nội không thể giải quyết những vấn đề này nếu không có sự giúp đỡ của các đồng minh xã hội chủ nghĩa, mà chủ yếu là Liên Xô và Trung Quốc. Liên Xô đứng đầu danh sách những cung cấp viện trợ. Tính chất của viện trợ kinh tế và quân sự của Liên Xô được xác định vào mùa xuân và mùa hè năm 1965, mặc dầu hàng hóa đã được chuyển đi từ Liên Xô vào tháng giêng và tháng hai năm đó.
Khối lượng hàng viện trợ của Liên Xô tăng đều đặn từ năm 1965 đến 1968. Mátxcơva gửi tới miền Bắc Việt Nam các thiết bị công nghiệp, viễn thông, xe tải, trang thiết bị y tế, công cụ máy móc, quặng sắt và các kim loại không chứa sắt. Trong khi cung cấp viện trợ cho các đồng chí Việt Nam, lúc đầu khối lượng hàng viện trợ Liên Xô ít hơn của Trung Quốc. Đến năm 1967 toàn bộ viện trợ xã hội chủ nghĩa cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ước tính đạt khoảng 1,5 tỷ rúp (hơn 1,5 tỷ đôla nếu chuyển ra đôla theo tỷ giá hối đoái chính thức của Liên Xô 1 đôla=0,9 rúp). Phần của Liên Xô là 36,8% hay 547,3 triệu rúp (608,1 triệu đôla). Thời gian trôi qua, viện trợ của Liên Xô lên tới khoảng 50% của tổng số viện trợ của xã hội chủ nghĩa và vào năm 1968 nó đã đạt tỷ lệ 524 triệu rúp (582,2 triệu đôla).
Những khoản viện trợ này hoàn toàn được tài trợ thông qua các khoản cho vay tín dụng dài hạn. Mặc dù hàng hóa của Liên Xô rất quan trọng cho ngành công nghiệp, viễn thông và nông nghiệp, song Bắc Việt Nam vẫn quan tâm nhiều hơn đến viện trợ quân sự.

Hợp tác sự giữa hai nước được sự chú ý của các nhà lãnh đạo ở Mátxcơva và Hà Nội. Liên Xô bắt đầu viện trợ cho đồng minh Việt Nam của mình vũ khí và các trang bị quân sự vào năm 1953 (năm mà nó xuất hiện trong các bản báo cáo của các quan chức Liên Xô). Số lượng viện trợ quân sự của Liên Xô trước 1965 không lớn; phần lớn viện trợ được Trung Quốc cung cấp.

Tình hình thay đổi căn bản từ năm 1965. Liên Xô tăng cường viện trợ quân sự của họ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và dần dần trở thành nguồn cung cấp chính các vũ khí và trang thiết bị hiện đại cho Bắc Việt. Theo một bản báo cáo của Bộ Ngoại giao ngày 26 tháng 10 năm 1965: từ năm 1962 Mátxcơva đã cung cấp cho Chính phủ Bắc Việt Nam xấp xỉ 200 triệu đôla trang thiết bị quân sự, kể cả máy bay.

Hơn một nửa số này đã được chuyển đến trong năm 1965. Trong năm 1966-1967 Mátxcơva đã lĩnh trách nhiệm cung cấp 500 triệu rúp trang thiết bị cho lực lượng quân sự Bắc Việt Nam (xấp xỉ 550,5 triệu đôla) và đạt 1 tỷ rúp trị giá hàng quân sự tính từ năm 1953. Nhưng Liên Xô thực sự vượt giới hạn này vào năm 1968, đạt con số 1,1 tỷ rúp. Năm 1968 viện trợ quân sự cho Bắc Việt Nam chiếm khoảng hai phần ba tổng số viện trợ của Liên Xô cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và tính ra được 357 triệu rúp (369,7 triệu đôla).
Liên Xô đã cố gắng đáp ứng yêu cầu của Hà Nội đối với nhiều loại vũ khí và đạn dược khác nhau. Mối quan tâm chính của Liên Xô là bảo vệ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước các đợt không kích của Mỹ và tăng cường khả năng phòng không của Bắc Việt Nam. Mátxcơva gửi tới Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tên lửa “đất đối không”, máy bay phản lực chiến đấu, tên lửa, súng phòng không và các trang thiết bị phòng không khác. Tin tức tình báo của Mỹ đã báo cáo những dấu hiệu đầu tiên về vũ khí của Liên Xô vào mùa hè năm 1965, mặc dầu việc xây dựng những tụ điểm phòng không xung quanh Hà Nội và những sân bay quan trọng khác của Bắc Việt Nam đã bắt đầu vào mùa xuân năm đó.
Gần như ngay từ đầu các trang thiết bị phòng không của Liên Xô đã chứng tỏ hiệu quả. Ngày 24 tháng 7 năm 1965, lần đầu tiên tên lửa “đất đối không”do Liên Xô chế tạo đã bắn máy bay Mỹ và hạ rơi một chiếc F4C trên đường đi tấn công một mục tiêu ở phía Tây Bắc Hà Nội. Trong Cuộc chiến tranh Việt Nam, tên lửa “đất đối không”có tính cơ động cao và gần như đối tượng không thể phát hiện ra, chứng tỏ được tiềm lực chiến đấu chống lại lực lượng không quân Mỹ.
Cùng với máy bay chiến đấu, pháo phòng không và rada, tên lửa “đất đối không”đã trở thành những chướng ngại vật nghiêm trọng cho kế hoạch đàn áp Bắc Việt Nam bằng những nỗ lực quân sự của Mỹ. Vũ khí hiện đại bản thân chúng không đáp ứng được tất cả những nhu cầu của Bắc Việt Nam. Hà Nội cũng cần những cán bộ quân sự được đào tạo tốt: những người có kinh nghiệm vận hành các vũ khí do Liên Xô cung cấp.

Điều này làm cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phụ thuộc vào các cố vấn Liên Xô và đòi hỏi các quân nhân Bắc Việt Nam cần phải được gửi sang Liên Xô đào tạo. Mỗi năm trong cuộc chiến tranh Việt Nam có hàng ngàn lính và sĩ quan của Việt Nam được đào tạo tại các trường quân sự của Liên Xô. Năm 1966, theo báo cáo của đại sứ quán Liên Xô, 2.600 người Việt Nam được gửi tới đào tạo tại Liên Xô để phục vụ cho ngành không quân và phòng không.
Năm 1966 chương trình đào tạo đã xây dựng được đội ngũ cán bộ cho một trung đoàn phòng không và kỹ thuật viên cho một trung đoàn không quân và hàng chục phi công trong số những người dân Bắc Việt Nam tham gia quân đội nhân dân Việt Nam. Rõ ràng một trong số những người được đào tạo tại Liên Xô sau đó đã giữ vai trò chỉ huy các đơn vị của Mặt trận giải phóng dân tộc ở miền Nam. Mátxcơva biết điều này, vì phía Việt Nam không che giấu các quan chức ngoại giao Liên Xô tại Hà Nội, việc họ gửi số lượng ngày càng lớn quân lính của mình vào miền Nam Việt Nam. Hơn nữa, quân chính quy của Bắc Việt Nam với tư cách là “lực lượng chủ lực cơ động”đã được sát nhập vào quân đội Việt cộng bao gồm “bộ đội địa phương”và “quân du kích”. “Lực lượng chủ lực cơ động”được trang bị súng bắn tự động và súng cối hiện đại có khả năng tham gia các hoạt động đánh chiếm, bảo vệ khu vực đất đai chiếm được. Lực lượng này chịu trách nhiệm tấn công các căn cứ quân sự, sân bay Mỹ và hoạt động ở nhiều tỉnh của miền Nam.
Số quân chính quân chính quy của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại miền Nam Việt Nam, được Bộ Ngoại giao Liên Xô đánh giá vào thời điểm năm 1967, lên tới 120.000 trong tổng số hơn 300.000 quân của Mặt trận giải phóng. Vì sự có mặt của các đơn vị quân chính quy tại miền Nam không giữ được bí mật với ai cả, lại càng không giữ được bí mật đối với người Mỹ. Vì vậy, Hà Nội đã chính thức thừa nhận sự thật này vào giữa năm 1967.
Tuy nhiên Mátxcơva không lấy gì làm hài lòng với thông báo này. Các nhà lãnh đạo Liên Xô hẳn đã lo ngại về vai trò của họ trong việc trang bị vũ khí hiện đại cho các đơn vị ở miền Nam. Mátxcơva muốn tránh tiết lộ một số chi tiết về quan hệ của họ đối với Bắc Việt Nam và một số chi tiết như vậy là sự tham gia của các cố vấn Liên Xô. Đã có những dự báo rằng Liên Xô sẽ gửi chuyên gia quân sự tới Việt Nam một khi cuộc xung đột Đông Nam Á mở rộng. Tháng 2 năm 1965 Bộ Quốc phòng đã cảnh báo trước về việc chuyển giao các tình báo tên lửa đất đối không của Liên Xô cho Việt Nam.
Nguồn tin quân sự Mỹ cho biết các bệ phóng tên lửa “gần như chắc chắn sẽ phải do quân đội Liên Xô vận hành vì nguồn tin này cho rằng không có người Bắc Việt Nam nào được đào tạo để điều khiển tên lửa “đất đối không”(surface to air-SAM). Vì vậy khi nhận được tin tức tình báo Mỹ báo cáo vào tháng 9 năm 1965 rằng, từ 1.500 đến 2.500 quân Liên Xô có lẽ đang có mặt ở Việt Nam khi đó, chính quyền Mỹ không hề ngạc nhiên về điều này. Báo cáo này dự báo rằng phần lớn các quân nhân Liên Xô là nhân viên vận hành SAM, ngoài ra, là các chuyên gia đào tạo và hỗ trợ.
Tin tức tình báo không loại trừ khả năng về sự có mặt của 150 phi công Liên Xô và nhân viên bảo trì trong các nhóm đào tạo về không quân và 300 kỹ thuật viên khác tham gia vào các hoạt động quản lý, thông tin liên lạc và phục vụ hậu cần. Thông tin từ nguồn tin tình báo Mỹ rất chi tiết và được củng cố thêm trong một bản báo cáo vào cuối năm 1967 của Đại sứ quán Liên Xô tại Hà Nội. Thông tin này tính ra có 1.165 chuyên ga quân sự Liên Xô tại Việt Nam chịu trách nhiệm bảo trì các loại vũ khí khác nhau và rada. Rõ ràng những chuyên gia chủ yếu là kỹ thuật viên và nhân viên vận hành SAM. Những báo cáo này đã lưu ý rằng những chuyên gia này cũng tham gia các nhiệm vụ chiến đấu, gợi ý cho một vai trò tích cực hơn. Trong báo cáo này đại sứ quán cho biết phần lớn các chuyên gia Liên Xô là nhân viên vận hành SAM và các phi công. Nhưng vẫn có một nhóm các chuyên gia quân sự thoát khỏi sự chú ý của Mỹ.
Cùng với các kỹ thuật viên, phi công, nhân viên vận hành SAM, Mátxcơva đã gửi tới Việt Nam một nhóm đặc biệt chịu trách nhiệm thu thập mẫu vũ khí của Mỹ trong Cuộc chiến tranh Việt Nam. Để lập kế hoạch cho sự can thiệp của mình vào cuộc xung đột, các nhà lãnh đạo Liên Xô không chỉ lưu tâm tới các lợi ích chính trị, tư tưởng mà còn lưu tấm tới các cơ hội thử nghiệm trên chiến trường những kiểu vũ khí tiên tiến nhất của Liên Xô và một cơ hội để thu thập thông tin vũ khí mới nhất của Mỹ, thông qua việc nghiên cứu chiến lợi phẩm. Nhằm mục đích này, Mátxcơva đã ký một Hiệp định với Hà Nội yêu cầu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa giúp Liên Xô thu thập, đánh giá những mẫu vũ khí và trang thiết bị quân sự Mỹ và gửi một nhóm các chuyên gia quân sự tới Việt Nam.
Thành viên của nhóm này có nhiệm vụ thu thập các bộ phận máy bay Mỹ bị bắn rơi và các vũ khí chiếm được, kiểm tra những trường hợp vũ khí của Liên Xô không hoạt động tốt và gửi những kết luận với những mẫu hữu ích nhất về Mát-xcơ-va. Trên cơ sở của những dữ liệu thu thập này các chuyên gia quân sự Liên Xô chuẩn bị và đưa những đề xuất để điều chỉnh các loại vũ khí của Liên Xô phù hợp với trang thiết bị của Mỹ. Hoạt động này có hiệu quả rất lớn trong hai năm đầu Liên Xô tham gia vào Cuộc chiến tranh Việt Nam. Từ tháng 5 năm 1965 đến đầu năm 1967, các chuyên gia “đặc biệt”của Liên Xô đã chuyển về Liên Xô hơn 700 mẫu các trang thiết bị quân sự Mỹ, kể cả những bộ phận máy bay phản lực, tên lửa, rada và trang thiết bị thám ảnh. Họ chuẩn bị một số bản báo cáo phân tích các vũ khí của Mỹ.
Kết quả Chính phủ Liên Xô quyết định sao chép một số kiểu vũ khí Mỹ, chẳng hạn, tên lửa đạn đạo Sparrow-3, động cơ máy bay, các thiết bị điện tử trong ngành công nghiệp của Liên Xô. Các chuyên gia của Liên Xô cũng tìm ra phương pháp bảo vệ Bắc Việt Nam thoát khỏi không kích của Mỹ. Mặc dù tính hiệu quả của các hệ thống phòng không Liên Xô đã được thừa nhận, các chuyên gia Liên Xô vẫn tiến hành cải tiến vũ khí này, điều chỉnh nó phù hợp với khả năng của máy bay Mỹ. Chẳng hạn như, khi Mỹ sử dụng máy bay F-111A để ném bom Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Liên Xô đã tối ưu hóa các hệ thống phòng không Dvina của họ để chúng có thể bắn rơi máy bay đang bay với tốc độ cao lên tới 3.700 km một giờ. Sự cải tiến này chứng tỏ hiệu quả ngày 30 tháng 3 năm 1968, khi một máy bay F-111A bị hệ thống phòng không Dvina bắn rơi cách Hà Nội không xa.
Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Liên Xô Andei Grechko đã báo cáo sự kiện trực tiếp lên Brezhnev. Không nghi ngờ gì nữa, sự có mặt của các cố vấn quân sự Liên Xô tại Việt Nam đã chứng tỏ tính chất lập lờ trong chính sách của Liên Xô đối với Cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Trong khi các nhà lãnh đạo Liên Xô đang cố gắng tạo ra một hình ảnh tìm kiếm giải pháp hoà bình sớm nhất cho cuộc xung đột, các cố vấn Liên Xô tại Việt Nam đã chứng minh điều ngược lại và đó là sự tăng cường cam kết. Do đó, Mátxcơva nóng lòng muốn tránh công khai hóa việc viện trợ và kéo sự chú ý của thế giới ra khỏi vấn đề này. Để đạt mục đích đó, Liên Xô đe dọa gửi quân tình nguyện tới Việt Nam. Nếu làm một phép so sánh, việc triển khai một số lượng hạn chế các cố vấn Liên Xô tới Việt Nam có vẻ là việc làm ít tồi tệ hơn trong hai việc.
Mátxcơva lặp đi, lặp lại gửi quân tình nguyện tới Việt Nam trong suốt diễn tiến Cuộc chiến tranh Việt Nam. Sau diễn văn của Brezhnev tại Quảng trường Đỏ ngày 23 tháng 3 năm 1965, một thông cáo chung Liên Xô-Bắc Việt Nam một tháng sau đó, các nhà lãnh đạo Liên Xô đưa ý tưởng này vào một số bài phát biểu và tuyên bố của họ. Việc khẳng định thái độ sẵn sàng gửi quân tình nguyện của Liên Xô đã được nêu ra trong Đại hội lần thứ 23, Đảng Cộng sản Liên Xô và trong lời kêu gọi của Liên Đoàn thanh niên cộng sản Liên Xô vào mùa xuân năm 1966. Nhưng chiến dịch tuyên truyền rầm rộ nhất về quân tình nguyện diễn ra ngày 6 tháng 7 năm 1966, khi các nước Vácxava đưa ra một tuyên bố chung tại Bu-ca-rét biểu thị thái độ sẵn sàng gửi quân tình nguyện tới Việt Nam để “giúp nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh của họ chống lại quân Mỹ xâm lược”.
Phương Tây ghi nhận rằng đây là lần đầu tiên một cam kết như vậy về quân tình nguyện được tất cả các nước xã hội chủ nghĩa châu Âu đưa ra. Trước đây chỉ có Liên Xô đã tuyên bó một cam kết như vậy cùng với Bắc Triều Tiên và Cu Ba. Tuy nhiên các nhà phân tích phương Tây đã chú ý tới sự khác biệt giữa tuyên bố Bu-ca-rét với sự dè dặt, riêng tư của các quan chức các nước xã hội chủ nghĩa và kết luận rằng “sự dứt khoát ngày càng tăng lên của cam kết này không nhất thiết phản ánh những quyết định triển khai nó”. Hình như bản thân Trung Quốc và Bắc Việt Nam có sự tự kiềm chế trong vấn đề này. Cả Hà Nội và Bắc Kinh vẫn “tương đối kín tiếng”về vấn đề quân tình nguyện.
Một báo cáo của Bộ Ngoại giao trích dẫn lời Chủ tịch Hồ Chí Minh nói rằng trong khi Hà Nội rất biết ơn những lời đề nghị gửi quân tình nguyện, ”Sự giúp đỡ đã được đề nghị chưa cần thiết vào lúc này. Nhưng chưa rõ liệu trong tương lai chúng tôi có cần sự viện trợ này không”. Các nhà phân tích phương Tây suy nghĩ về tình hình thực tế ở các nước xã hội chủ nghĩa. Việc gửi quân tình nguyện chủ yếu vẫn chỉ là một chiến dịch tuyên truyền, cho dù có sự đảm bảo công khai của các nhà lãnh đạo Cộng sản. Việc quân tình nguyện đã được đưa vào tuyên bố Bu-ca-rét theo yêu cầu của Phạm Văn Đồng, người đã gắn lời phát biểu với những đợt không kích của Mỹ vào Hà Nội và Hải Phòng. Mục tiêu chính của tuyên bố này, theo các nhà lãnh đạo Bắc Việt Nam, nhằm đoàn kết các nước xã hội chủ nghĩa với Việt Nam.
Vấn đề quân tình nguyện cũng được làm rõ nhiều lần trong các cuộc đàm phán giữa các quan chức Liên Xô và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Bắc Việt Nam nói họ cần, trước hết là vũ khí và các trang thiết bị quân sự. Về “nguồn nhân lực”, Việt Nam có đủ người. Bằng chứng nữa về việc không có ý định gửi quân tình nguyện tới Việt Nam đã được ghi nhận vào tháng 7 năm 1966, khi Marshall Aleksei Yepishev, Tổng tư lệnh chính trị các lực lượng vũ trang Liên Xô, tiết lộ với một nhà ngoại giao phương Tây rằng Hà Nội trước đó không hề yêu cầu “quân tình nguyện”và Liên Xô không chuẩn bị bất cứ quân tình nguyện nào.

Thay vào đó, Liên Xô có lẽ xem xét gửi thêm máy bay chiến đấu MiG và vũ khí đã chứng tỏ hữu hiệu ở Đông Nam Á. Mặc dù ý định thật sự là gì đi chăng nữa, nhân dân Liên Xô chấp nhận việc tuyên truyền về quân tình nguyện như giá trị bề ngoài của nó và viết thư gửi các nhà lãnh đạo bày tỏ việc họ sẵn sàng tới Việt Nam.
Bộ Quốc phòng Liên Xô thông báo với Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô rằng trong năm 1966 họ đã nhận được 750 đơn của các sĩ quan và hạ sĩ quan Liên Xô đề nghị được tới Việt Nam với tư cách là quân tình nguyện. Do vậy mà vấn đề quân tình nguyện chủ yếu được sử dụng như một thủ đoạn tuyên truyền, như một phương tiện để gây sức ép với Mỹ, và trong một chừng mực nào đó như một làn khói che mắt việc gửi các cố vấn Liên Xô tới Việt Nam.
Nguồn: LB Xô viết và chiến tranh VN

ĐĂNG BÌNH LUẬN

Mới hơn Cũ hơn