Liệu Có nên hợp pháp hóa Hôn Nhân đồng giới ở Việt Nam

 Hôm nay, page USUK Việt Nam, đại diện bộ phận cộng đồng LGBT ở Việt Nam phát động phong trào: GÓP ĐỒNG TIỀN - XÂY ĐỒNG Ý, đại khái kêu gọi lập quỹ để hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính (đồng giới) ở Việt Nam.

>> Giá trị Người phụ nữ Việt Nam trong mắt người dân Hàn Quốc. (thoibaonew.com)

>> Người Việt Có Tên Họ Từ Bao Giờ ? (thoibaonew.com)

>> Sài Gòn - Hòn Ngọc Viễn Đông trước 1975 “có giàu có như lời đồn" ? (thoibaonew.com)

Hiện ở Việt Nam không ngăn cấm việc các bạn trẻ đồng tính kết hôn, tuy nhiên không thừa nhận tính chính danh của hôn nhân đồng tính, tức pháp luật Việt Nam không bảo hộ hôn nhân đồng tính.
Đơn giản, luật Hôn nhân & Gia đình Việt Nam quy định cụ thể: Kết hôn là việc NAM và NỮ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của pháp luật.


Theo đó, các cặp đôi đồng tính tuy vẫn có thể tổ chức đám cưới, về chung sống cùng nhau nhưng sẽ không được thừa nhận là vợ chồng về mặt pháp lý. Tất nhiên, người chuyển giới làm lại bộ tịch có thể đăng kí kết hôn bình thường, pháp luật Việt Nam bảo hộ điều này.
Thời gian gần đây, rất nhiều tổ chức NGOs lẫn ĐSQ Hoa Kỳ đề nghị Việt Nam hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính, tuy nhiên Việt Nam vẫn uyển chuyển từ chối điều này.
Tại sao vậy?
Tại vì rất nhiều hệ lụy!
LGBT Quyền đang ngày càng biến tướng, chính xác hơn là bị những kẻ biến thái nhưng có trí tuệ lợi dụng để thỏa mãn dục vọng cá nhân. Hôn nhân đồng tính giờ không phải là mục đích mà là phương tiện.
1. Đầu tiên, việc hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính khiến việc nhận con nuôi trở nên dễ dàng, tiềm ẩn khả năng để những kẻ ấu dâm gây ác. Đội ơn truyền thông kền kền, như ở Mỹ thì các cặp đôi đồng tính có nhiều 'quyền' (được ưu ái) nhận con nuôi hơn các cặp vợ chồng bình thường. Quá trình nhận con nuôi được đánh giá phần nhiều dựa trên tiền bạc chứ không phải đạo đức.
Hệ quả là thực tế, LGBT quyền đã bị sử dụng như một con ngựa thành Trojan, bởi một thiểu số những kẻ ấu dâm. Chúng vận động ban hành luật cho phép nhận con nuôi dưới lớp vỏ bình đẳng để thực hiện kế hoạch sở hữu trẻ em, thỏa mãn dục vọng đê hèn của chúng.
Kết quả là ngày nay, hai kẻ ấu dâm có thể 'kết hôn' và rồi mua trẻ em một cách hoàn toàn hợp pháp. Điều này không chỉ có thể về mặt lý thuyết mà đã được xác nhận bởi nhiều vụ án trong đời thực trong đó các cặp ấu dâm mua và lạm dụng tình dục những đứa trẻ bị chúng nhận làm con nuôi. (Search GG để biết thêm chi tiết, nó quá quá nhiều và ghê sợ)
2. Thứ 2, đó là sự bền vững và sự chung thủy của hôn nhân đồng tính. Nghiên cứu cho thấy, ngay ở các quốc gia hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính thì những kiểu gia đình này thường có những khiếm khuyết nhất định. Ví như trẻ em được nuôi bởi cặp đồng tính sẽ dễ gặp tổn thương tâm lý và lệch lạc hành vi, hôn nhân đồng tính thường không bền vững, làm sụt giảm giá trị của hôn nhân trong văn hóa xã hội.
Về tính bền vững, Khảo sát năm 2004 ở Na Uy và Thụy Điển đối với các cặp đồng tính đã đăng ký kết hợp dân sự cho thấy: các cặp đồng tính nam có tỷ lệ ly hôn cao hơn 50%, với đồng tính nữ cao hơn 167% so với các cặp vợ chồng nam-nữ thông thường. Khảo sát năm 2018, con số này là cao hơn 70% với các cặp đôi đồng tính nam, với đồng tính nữ là 210%.
Nhà xã hội học Edward Laumann lập luận rằng "cư dân đồng tính điển hình trong thành phố Chicago dành hầu hết cuộc sống trong các mối quan hệ tình cảm mang tính "giao dịch", hoặc chỉ duy trì được quan hệ ngắn hơn sáu tháng".
Điều tra năm 2004 ở Mỹ về lối sống của 7862 người đồng tính cho thấy: chỉ có 15% đã gắn bó với bạn tình đồng giới được 12 năm hoặc lâu hơn, chỉ có 5% kéo dài hơn 20 năm
Thêm một điều, khiến cho nhiều quốc gia không chấp thuận hôn nhân đồng tính đó là sự chung thủy của các cặp đôi kết hôn đồng tính.
Các tổ chức ủng hộ đồng tính vẫn tuyên truyền rằng tình yêu đồng tính không có gì khác biệt so với tình yêu nam nữ, tuy nhiên thực tế lại rất khác. Chính bản thân "văn hóa đồng tính" luôn thôi thúc người đồng tính liên tục tìm kiếm các bạn tình mới, thay vì tôn trọng chế độ một vợ một chồng như các cặp dị tính.
Một nghiên cứu về đồng tính nam ở Hà Lan được công bố trong tạp chí AIDS phát hiện ra rằng "thời gian có quan hệ ổn định" với mỗi bạn tình chỉ là 1 năm rưỡi, và mỗi đồng tính nam có trung bình 8 đối tác tình dục mỗi năm.


Là 8 đấy, thưa các bạn!
Về mức độ chung thủy, theo Báo cáo Mendola, chỉ 26% người đồng tính tin rằng chung thủy là yếu tố quan trọng nhất trong một cuộc hôn nhân.
Tôi từng đọc một bài nghiên cứu của một tác giả nổi tiếng về đồng tính, cho biết các cặp đồng tính có các tiêu chuẩn đạo đức rất "khác biệt" so với xã hội. Một trong số đó là "sự tồn tại các bạn tình ngoài hôn nhân", họ luôn muốn tìm nhiều bạn tình riêng dù vẫn đang chung sống với nhau. Các cặp đôi đồng tính không xem đó là hành vi ngoại tình mà lại coi đó là điều cần thiết trong lối sống của họ.
Theo khảo sát cho thấy: chỉ có 2,7% số người đồng tính lớn tuổi là chung thủy với duy nhất 1 bạn tình trong suốt cuộc đời của họ, so với tỷ lệ trên 80% ở những người bình thường, kém xa 30 lần.
3. Về vấn đề giáo dục con nuôi của các cặp đôi đồng tính cũng là chủ đề rất được quan tâm.
Một nghiên cứu của Mark Regnerus, giáo sư tại Đại học Texas được đăng trên Tạp chí nghiên cứu xã hội Hoa Kỳ đã cung cấp thêm nhiều thông tin về vấn đề này.
Nghiên cứu khảo sát 15.000 thanh niên, khảo sát kỹ 3.000 thanh niên trong đó 175 được nuôi lớn bởi cặp đồng tính nữ và 73 bởi cặp đồng tính nam. Kết quả cho thấy, với các cặp đôi đồng tính có thể gắn bó lâu dài thì trong ngắn hạn, họ có thể nuôi con tốt như vợ chồng thông thường; nhưng về dài hạn, sự khiếm khuyết về giới tính (thiếu vắng cha hoặc mẹ để nuôi dạy đứa trẻ) là không thể khắc phục được, và con nuôi của họ khi bước vào tuổi thành niên sẽ gặp phải nhiều vấn đề hơn hẳn so với con cái của những gia đình thông thường.
Cụ thể như tỷ lệ thất nghiệp, có ý định tự tử, từng phải điều trị tâm lý đều tăng gấp đôi, riêng việc từng có quan hệ đồng tính tăng từ 4-6 lần.
Một đứa trẻ được nuôi dưỡng bởi 1 cặp đồng tính chắc chắn sẽ phải đối mặt với nhiều vấn đề hơn. Ví dụ: nếu 1 cặp đồng tính nam nhận con gái nuôi hoặc cặp đồng tính nữ nhận con trai nuôi, đứa trẻ sẽ phải lớn lên mà thiếu vắng sự hướng dẫn giới tính từ người có cùng giới tính với nó, nhất là trong gia đoạn dậy thì, từ đó làm tăng nguy cơ về sự lệch lạc hành vi giới tính. Sự dễ chia tay hoặc quan hệ ngoài luồng, vốn phổ biến của các cặp đồng tính, cũng làm tăng nguy cơ chấn thương tâm lý ở đứa trẻ. Tệ hơn, đứa trẻ có thể phải đối mặt với sự kỳ thị, trêu chọc hoặc cô lập từ bạn bè cùng trang lứa, từ đó hình thành tâm lý bất mãn hoặc nổi loạn.
Nghiên cứu này đã xóa tan những ngộ nhận về việc "cha mẹ đồng tính không khác cha mẹ thường". Kết quả của nó tương đồng với nghiên cứu của các chuyên gia nghiên cứu chính sách gia đình, và không có gì đáng ngạc nhiên khi nghiên cứu này bị tấn công quyết liệt các nhà hoạt động ủng hộ đồng tính.
Những người ủng hộ người đồng tính, Hiệp hội tâm lý Mỹ phản bác "Các nghiên cứu về trẻ em nuôi dưỡng bởi cha mẹ đồng tính cho thấy rằng không có sự khác biệt so với con cái nuôi dưỡng bởi cha mẹ dị tính". Tuy vậy, các nghiên cứu như vậy thường dựa trên những mẫu đại diện quá nhỏ, và thường xuyên được tiến hành bởi các nhà nghiên cứu công khai ủng hộ đồng tính, và có một tư tưởng sai lệch về vấn đề đang được nghiên cứu ...
Trong thực tế, một bài báo xuất bản bởi tiến sĩ Loren Marks, (Đại học bang Louisiana) đã phân tích 59 nghiên cứu trước đây về cha mẹ đồng tính của Hiệp hội Tâm lý Mỹ (APA). Marks đã bóc trần kết quả sai lệch của APA rằng "con nuôi của cha mẹ đồng tính không bị thiệt thòi hơn so với con cái của các bậc cha mẹ khác giới."
Marks cũng chỉ ra rằng chỉ có bốn trong số 59 nghiên cứu được trích dẫn bởi APA thậm chí không đạt tiêu chuẩn của APA về bằng chứng thống kê.
Bế tắc này đã bị phá vỡ bởi những công việc Marks đã thực hiện. Không giống như các nghiên cứu trước đây thực hiện trên duy nhất trên một cấu trúc gia đình, Marks đã so sánh cụ thể với trẻ em lớn lên bởi cha mẹ đồng tính. Ông dựa trên mẫu dân số đại diện là đủ lớn để lập luận một cách khoa học và thống kê các kết luận hợp lệ. Đối với những lý do này, "cấu trúc mới về gia đình học" của ông (NFSS) xứng đáng được coi là "tiêu chuẩn vàng" trong lĩnh vực này...
Mặt khác, ông đã khảo sát những người trẻ từ 18 đến 39 về kinh nghiệm sống của họ trong gia đình. Trong khi các báo cáo này không phải là hoàn toàn khách quan, chúng vẫn đáng tin cậy hơn là cha mẹ tự báo cáo, và cho phép đánh giá các tác động lâu dài.


Tất cả những phát hiện trong nghiên cứu này rất quan trọng, đó là điều cái mạnh nhất - hầu như không thể chối cãi. So với trẻ em nuôi dưỡng bởi cha mẹ khác giới, con của cha mẹ đồng tính (LM và GF):
- Có trình độ học vấn thấp hơn.
- Có nhiều khả năng bị trầm cảm hơn.
- Bị bắt giam thường xuyên hơn.
Riêng đối với con cái của các bà mẹ đồng tính nữ:
- Phải nhận trợ cấp xã hội nhiều gấp 4 lần
- Tỷ lệ thất nghiệp cao gấp 3 lần
- Tỷ lệ có hành vi đồng tính cao gấp 4 lần
- Bị buộc quan hệ tình dục trái với ý muốn cao gấp 4 lần
- Sử dụng cần sa, hút thuốc lá thường xuyên hơn
- Tỷ lệ phạm tội cao hơn.
Các nhóm ủng hộ đồng tính thường cố gắng giải thích rằng nhiều tổ chức y tế chuyên nghiệp tuyên bố rằng trẻ em trong gia đình đồng tính cũng phát triển tốt như trẻ em trong gia đình khác giới. The American Academy of Pediatrics (AAP), tổ chức y tế hàng đầu đã có một tuyên bố như vậy, và đó hầu hết các tổ chức khác theo sau, chỉ đơn giản là lặp lại. Báo cáo của họ bỏ bê một điểm quan trọng của so sánh. Tuyên bố của AAP hoàn toàn vô nghĩa trong việc cung cấp bất kỳ loại thông tin quyết định nào về cách các gia đình đồng tính là có ích hay có hại với trẻ em.
Đó là hành vi phi đạo đức khi đem trẻ em phục vụ cho một thử nghiệm xã hội chưa được kiểm chứng hậu quả. Không có nền văn hóa nào ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào, đã từng sản sinh ra một thế hệ trẻ em lớn lên trong gia đình đồng tính. Đây là việc biến trẻ em thành vật thử nghiệm để hoàn thành ham muốn của người lớn. Một xã hội khôn ngoan và nhân đạo luôn luôn đi kèm với sự trợ giúp trẻ em mồ côi, và không bao giờ cố ý muốn trẻ phải chịu đựng hoàn cảnh như vậy. Nhưng công nhận gia đình đồng tính sẽ gây ra chính xác điều đó, chỉ vì một số nhỏ người lớn mong muốn như vậy
*** Lời kết, mượn lời học giả Pierre Lescaudron.
Dĩ nhiên, hôn nhân, gia đình, hôn nhân khác giới, nam tính và nữ tính không đảm bảo hạnh phúc hoàn hảo cho tất cả mọi người. Có nhiều cặp vợ chồng không hạnh phúc. Tuy nhiên, nếu chúng ta đến cái điểm trong quá trình suy đồi nơi mà chúng ta phải lựa chọn giữa hai cái xấu, sẽ là tốt hơn nếu chúng ta chọn cái xấu ít tồi tệ hơn.
Sự bình thường hóa/thậm chí tôn vinh tình dục đồng giới - bao gồm cả đồng tính luyến ái giả - đã tạo ra số lượng ngày càng gia tăng những cặp đồng giới. Từ cách nhìn này, gia đình và lối sống truyền thống vẫn tốt hơn là cái thế giới “hiện đại” mà giới “tinh hoa” đang áp đặt lên cho chúng ta.

Theo Đạo Sĩ

ĐĂNG BÌNH LUẬN

Mới hơn Cũ hơn