Tấn công ngoại giao và tiếp xúc bí mật.

 Cũng tháng 7 năm 1965, vào ngày 20, trong một "diễn văn lớn" đọc tại Liên hợp quốc, Tổng thống Giôn-xơn lớn tiếng bảo vệ Hiệp nghị Giơ-ne-vơ 1954, chẳng khác nào Hiệp nghị này đã được Mỹ luôn luôn "tông trọng"!

Và, cũng vào cái thời điểm oái oăm này, chẳng còn ai nữa để mà ngạc nhiên khi nghe hai Bộ trưởng Ngoại giao và Quốc phòng Mỹ tuyên bố trên đài truyền hình rằng Mỹ sẵn sàng đeo đuổi chiến tranh 5 năm, 10 năm hoặc 20 năm nữa, cho đến khi nào miền Bắc Việt Nam ý thức được rằng họ không thể thắng và không có giải pháp nào khác hơn là thương lượng (U.P, ngày 10 tháng 8, 1965).
Nói như vậy, phải chăng cũng có nghĩa là về phần mình hai ngài Bộ trưởng Mỹ đều đã ý thức được rằng Mỹ cũng không thể thắng được Việt Nam và cũng không có giải pháp nào khác hơn là thương lượng?
Trong cuộc trả lời phỏng vấn trên đây, Mắc Na-ma-ra đồng thời đã đưa ra một khái niệm mới "xuống thang" (désescalade) hoặc "leo thang ngược chiều" (escalade a rebours). Ông ta còn nói rằng chiến tranh có thể kết thúc bằng "sự giảm bớt từng bước" hoạt động quân sự của hai bên và không bắt buộc chấm dứt một lượt.



Nói trắng ra, hai ngài Bộ trưởng ngoại giao và quốc phòng Mỹ đã công khai thú nhận rằng Mỹ đã hoàn toàn mất hết hy vọng giành thắng lợi quân sự bằng chiến lược mở rộng chiến tranh ra miền Bắc Việt Nam.
Chính trong những điều kiện trên đây mà Tổng thống Giôn-xơn đã mở ra một "cuộc tấn công hòa bình" đại quy mô vào cuối năm 1965.
Nhằm tranh thủ dư luận quần chúng Mỹ và dư luận nhân dân thế giới hòng đổ trách nhiệm kéo dài chiến tranh cho Việt Nam, Tổng thống Giôn-xơn tung một lô phái viên mệnh danh là "những kẻ bành trướng vì hòa bình", gồm cả Phó tổng thống Hăm-phơ-rây (Humphrey), đi bốn phương trời.
Phó tổng thống Mỹ lãnh "sứ mạng đặc biệt" đi Nhật Bản, Nam Triều Tiên, Phi-lip-pin... (sự thật là để yêu cầu các nước này tham gia nhiều hơn nếu chiến tranh còn kéo dài và mở rộng!).

Ha-ri-man (Harriman) (Sau này, Ha-ri-man cầm đầu Phái đoàn Mỹ đàm phán tay đôi với Phái đoàn Việt Nam dân chủ cộng hòa trước khi Hội nghị Pa-ri từ hai bên chuyển thành bốn bên) đại sứ lưu động của Nhà Trắng, cùng một đoàn 17 "chuyên gia", thình lình đến Vác-sa-va, thủ đô Ba Lan, ngày 9 tháng 12 năm 1965, mà đại sứ Mỹ ở đây cũng không hề hay biết. Tất nhiên, hành động bất thường, đột xuất này của Mỹ không có mục đích nào khác hơn là làm cho dư luận phương Tây chú ý đến chuyến đi. Trong lúc đó, không phải ngẫu nhiên mà các giới thân cận của Nhà Trắng công khai nói đến "leo thang hòa bình" với hàm ý "không loại trừ khả năng sẽ có một cuộc gặp gỡ Giôn-xơn - Hồ Chí Minh".
Uy-li-am Bơn-đi (William Bundy), Thứ trưởng ngoại giao phụ trách các vấn đề Viễn Đông, cũng được phái đi Ca-na-đa.
Như vậy là chính phủ Mỹ có thể nói với thế giới rằng Mỹ đã tiếp xúc và đã vận động Ba Lan và Ca-na-đa, hai thành viên của Ủy ban quốc tế có nhiệm vụ kiểm soát và giám sát việc thi hành Hiệp nghị Giơ-ne-vơ năm 1954. Mỉa mai thay, không lúc nào bằng lúc này, bộ máy tuyên truyền đầu độc của Mỹ không ngừng nhắc đến một Hiệp nghị quốc tế mà chính Mỹ đã chà đạp lên để bứng lấy và tiếp tục cuộc chiến tranh bỏ dở của thực dân Pháp ở Việt Nam.
Mỹ còn cố giả tạo "một không khí lạc quan" bằng cách ngừng ném bom miền Bắc Việt Nam trong mấy ngày, Tổng thống Giôn-xơn tuyên bố: sẵn sàng thương lượng, bất cứ lúc nào!
Tổng thống Mỹ có muốn hòa bình thật không? Nếu muốn hòa bình, thì thứ hòa bình nào hay là "hòa bình kiểu Mỹ", theo những điều kiện do Mỹ đưa ra?
Vậy thử xem lập trường thương lượng của Tổng thống Giôn-xơn là như thế nào ?
Chắc có người còn nhớ, trên mười năm về trước, có một thượng nghị sĩ Mỹ tên là Lin-đơn B.Giôn-xơn đã làm chấn động dư luận quần chúng Mỹ và buộc dư luận thế giới cũng phải chú ý, bằng cách dõng dạc tuyên bố chống lại việc đưa lính Mỹ đi chết ở Đông Dương trước thượng nghị viện Mỹ (Ngày 5 tháng 4 năm 1954, trong một cuộc thảo luận tại Thượng nghị viện về chính sách của Mỹ ở Đông Dương, Giôn-xơn tuyên bố: "Tôi chống lại việc đưa lính Mỹ đến nơi bùn và đầm lầy của Đông Dương để bị giết chóc nhằm làm tồn tại mãi mãi chủ nghĩa thực dân và sự bóc lột châu Á bởi người da trắng").
Người ta cũng chưa quên rằng trong chiến dịch tranh cử tổng thống cuối năm 1964, cũng ông Giôn-xơn đó và Đảng dân chủ của ông ta đã tập trung cuộc vận động xung quanh vấn đề "Hòa bình ở Việt Nam". Và, cũng vì lẽ đó, mà ông Giôn-xơn đã đắc cử với một tỷ lệ phiếu chưa từng thấy trong biên niên bầu cử tổng thống ở Mỹ.


Tất nhiên, điều đó không có ý nghãi nào khác hơn là nhân dân Mỹ chán ghét chiến tranh và tỏ ra ghê tởm tên hiếu chiến cực đoan Gôn-oa-tơ (Goldwater), ứng cử viên của Đảng cộng hòa, và cũng không có cách nào khác hơn là đặt nguyện vọng tha thiết của họ vào Giôn-xơn, được quảng cáo rùm beng là "ứng cử viên của hòa bình".
Nhưng bây giờ thì mọi người đã rõ là sau khi đắc cử Tổng thống, ông Giôn-xơn đã ngang nhiên phản bội những người đã bầu cử ông ta, vì ông đã làm theo nguyện vọng không phải của đa số nhân dân Mỹ mà của Gôn-oa-tơ! Và bằng cách đó, Tổng thống mới đắc cử đã thổi bùng ngọn lửa phản chiến lên khắp nước Mỹ.



Dầu vậy, "Tuyên bố chính thức" ngày 2 tháng 1 năm 1966 của Nhà Trắng vẫn kể là "những sáng kiến vì hòa bình" của chính phủ Mỹ "khó mà đếm hết được"!
Theo "Tuyên bố chính thức" trên đây thì sáng kiến nghiêm túc nhứt của Mỹ là "kế hoạch hòa bình" được Tổng thống Giôn-xơn đưa ra trong bài diễn văn đọc ngày 7 tháng 4 năm 1965 tại Bôn-ti-mo (Baltimore). Điều gì là quan trọng và đáng quan tâm hơn hết trong "kế hoạch hòa bình" đó?
Mỹ nói sẵn sàng thương lượng với Hà Nội, và chỉ với Hà Nội mà thôi, Mỹ làm như không hề có "Việt cộng".
Và, nếu có thương lượng với Hà Nội, Mỹ sẵn sàng biếu một tỷ đô-la cho việc phát triển kinh tế của Việt Nam, kể cả miền Bắc. Nói một cách khác, Oa-sinh-tơn sẵn sàng mua hòa bình ở miền Nam với giá một tỷ đô-la. Thậm chí, cũng có thể nói điều kiện hòa bình của Mỹ là: miền Bắc phải bán miền Nam cho Mỹ! Đúng là hòa bình kiểu Mỹ!
"Tuyên bố chính thức" ngày 2 tháng 1 năm 1966, còn phô trương "nhiều đóng góp của Mỹ vào sự nghiệp hòa bình". Những đóng góp nào? Người ta không còn tin ở mắt mình nữa, khi đọc thấy tuyên bố khẳng định đóng góp trước hết của Mỹ là Hiệp nghị Giơ-ne-vơ! Té ra sự "đóng góp" quan trọng nhứt của Mỹ lại là một Hiệp nghị quốc tế mà Mỹ đã cố tình vi phạm, mà "Sách trắng" của Mỹ công bố ngày 27 tháng 2 năm 1966 không hề nói đến trong những "cam kết của Mỹ đối với miền Nam Việt Nam".
Cuối cùng, phải nói là chính phủ Mỹ đã xóa sạch mọi cơ sở thương lượng bằng cách khẳng định rằng Mỹ không bao giờ rời bỏ miền Nam Việt Nam vì Mỹ không thể "phản bội" nhân dân miền Nam! Khăng khăng từ chối nói chuyện với "những người đang chiến đấu", coi miền Nam chẳng khác nào bang thứ 52 của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ với lập trường ngoan cố đến phi lý đó, Oa-sinh-tơn đã cố tình bóp chết từ trong trứng nước mọi khả năng chấm dứt chiến tranh bằng một giải pháp thương lượng.
Vì Mỹ còn chưa muốn chấm dứt chiến tranh, một cuộc chiến tranh đã được lập chương trình, chuẩn bị đầy đủ và tiến hành ráo riết trong khuôn khổ chính sách của Mỹ ở Đông Nam Á và khu vực châu Á - Thái Bình Dương, thậm chí đã trở thành lý do tồn tại chủ yếu của chính sách đó.
Vì Mỹ còn rất sợ hòa bình, chưa dám nghĩ đến mà cũng chưa hình dung nổi sự sụp đổ không tránh khỏi của toàn bộ chiến lược của mình ở kv trong trường hợp hòa bình được lập lại và Mỹ phải rút quân về nước.
Tóm lại, vì chỉ bằng chiến tranh Mỹ mới còn hy vọng bám được miền Nam Việt Nam và thế đứng lâu dài của Mỹ ở khu vực.
Vào giữa năm 1967, tình hình chiến sự ở miền Nam đang xích gần tới một thời điểm có tính chất quyết định.
Có thể nói năm 1967 là một năm bản lề, nó có nhiều triển vọng mở ra một thời kỳ mới.
Mỹ vẫn lao đầu vào chiến tranh, vẫn tiếp tục, ngày đêm ném bom bắn phá miền Bắc, mặc dù, theo lời Ca-bốt Lốt những "biện pháp trừng phạt" đó có thể "gây nhiều thiệt hại", nhưng không có nghĩa gì về mặt quân sự và chiến lược (Ngày 15-2-1965, trả lời phỏng vấn của báo U.S News and World Report (Tin tức Mỹ và thế giới), Ca-bốt Lốt nói: "Tôi không tin rằng những biện pháp trừng phạt đó, tự nó giải quyết được vấn đề. Tôi không tin rằng chúng ta có thể chiến thắng hoàn toàn bằng việc ném bom các đường tiếp tế") .
Từ "Hội đồng chiến tranh" này đến "Hội đồng chiến tranh" khác, những phần tử nóng đầu của Lầu Năm góc vẫn nhai đi nhai lại luận điệu độc nhứt: Vì kẻ địch không muốn hòa bình, nên Mỹ không có sự lựa chọn nào khác hơn là tiếp tục chiến tranh để giành lấy một thắng lợi quân sự với bất cứ giá nào.
Trong khi đó, tình thế của Mỹ trên chiến trường vẫn hoàn toàn bế tắc. Số máy bay Mỹ bị bắn rơi trên miền Bắc cứ tăng lên và danh sách lính Mỹ chết "nơi bùn và đầm lầy của Đông Dương nhằm làm tồn tại mãi mãi chủ nghĩa thực dân và sự bóc lột châu Á bởi người da trắng", như Tổng thống Giôn-xơn đã từng nói khi ông còn là một thượng nghị sĩ chưa được biết tiếng, cứ kéo dài ra.
Một điều đáng nói là "cuộc tấn công hòa bình" của Tổng thống Giôn-xơn, với tính chất bịp bợm và lập trường phi lý của nó, chẳng những không gây được sức ép nào đối với Việt Nam mà trái lại, nó đã báo động khắp nơi đề phòng một cuộc leo thang mới, sau khi sự thất bại của nó được công bố.
Lời lẽ "hòa bình giả" và hành động "chiến tranh thật" của Tổng thống Mỹ làm cho "khủng hoảng lòng tin" càng ăn sâu trong mọi tầng lớp nhân dân và ngay cả trong hàng ngũ binh sĩ Mỹ, điều chưa từng thấy ở mức độ nghiêm trọng như vậy trong lịch sử 200 năm của nước Mỹ.
Tình hình nội bộ của nước Mỹ ngày càng trở nên phức tạp và căng thẳng. Chiến tranh thúc đẩy quá trình quân sự hóa nền kinh tế chỉ có lợi cho các ngành công nghiệp phục vụ chiến tranh.
Trong những điều kiện trên đây, tất nhiên là phong trào phản chiến của quần chúng Mỹ đã không ngừng phát triển cả về bề rộng và bề sâu.
Nhìn rộng ra, vị trí quốc tế của Mỹ trên thế giới ngày càng bị thu hẹp và suy yếu.
Chiến tranh ở Việt Nam giúp Mỹ nắm chặt hơn một số chư hầu ở khu vực châu Á. Song, điều quan trọng và cốt tử đối với Mỹ là thái độ của các đồng minh lớn ở Tây Âu. Thay vì đổ xô đến cứu Mỹ như Mỹ đã từng cứu họ, họ đã ngoảnh mặt làm ngơ. Ắt họ không thể nào quên được rằng Mỹ đã lợi dụng danh nghĩa chống chủ nghĩa thực dân cũ để thay chân họ ở nhiều nơi bằng chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ.

Thậm chí, có kẻ lăm le chờ Mỹ rút khỏi Đông Dương để trở lại dưới hình thức nào đó hoặc chen chân vào để thủ lợi, và tất cả đồng minh của Mỹ ở Tây Âu và Nhật Bản không sót một kẻ nào đều tranh nhau lợi dụng cơ hội - có thể nói là bằng vàng - để cạnh tranh với Mỹ, làm giàu và phát triển kinh tế, đặc biệt trong những năm 60, với một tốc độ trung bình hàng năm gấp 2 lần so với thời kỳ giữa hai cuộc chiến tranh thế giới. Riêng Nhật Bản đã thu lợi thêm vì đã trở thành một căn cứ hậu cần quan trọng của Mỹ.



Mặt khác, Mỹ dùng chiến trường Việt Nam - một chiến trường của châu Á - để làm nơi thử vũ khí mới, hiện đại nhứt và tinh vi nhứt của Mỹ. Nhưng, cũng trong thời gian đó, tương quan lực lượng trên phạm vi thế giới đã thay đổi khá nhiều và không còn có lợi cho Mỹ nữa.
Tóm lại, nếu Mỹ không sớm buông Việt Nam, quá trình sa sút của Mỹ trên nhiều mặt đối nội và đối ngoại chỉ có thể tiếp tục đi xuống của nó mà thôi.
Đầu năm 1967, Việt Nam dân chủ cộng hòa đã tung ra một đòn tấn công ngoại giao công khai đòi Mỹ chấm dứt không điều kiện việc ném bom và mọi hành động chiến tranh khác chống nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và khẳng định rằng chỉ sau đó, hai bên mới có thể nói chuyện. Nay, Mỹ đã đánh tiếng muốn có "tiếp xúc bí mật" giữa Mỹ và Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Nếu đúng như thế, chúng ta cũng sẵn sàng.
Trong bối cảnh trên đây, chắc không còn ai ngạc nhiên nữa nếu biết rằng nhiệm vụ mới, bí mật và khẩn trương mà tôi được trao trước khi tạm biệt Hà Nội lần này là sẵn sàng tiếp xúc với Mỹ.
Tôi còn nhớ rất rõ là tôi lên đường với một ý nghĩ cứ lẩn quẩn trong đầu, như một sự ám ảnh.
Những kẻ dám liều lĩnh xâm lược Việt Nam, dù thâm độc và tàn bạo đến đâu, dù giàu và mạnh đến cỡ nào, nếu đến lúc nào đó mà vẫn chưa bị đánh bật ra khỏi bờ cõi Việt Nam thì cuối cùng, cũng phải tìm lối thoát thân bằng cách ngồi lại nói chuyện với Việt Nam ở thế thua, thế bị động và bất lợi cho chúng.

Hội Yêu lịch sử

ĐĂNG BÌNH LUẬN

Mới hơn Cũ hơn