FIDEL CASTRO VÀ CUBA – Đơn Giản Không Thể Khuất Phục

 95 năm ngày sinh của cố lãnh tụ Cuba, Fidel Castro, 13/08/1926 – 13/08/2021.

___________
Một cố lãnh tụ vĩ đại, một người cộng sản bất khuất, một nhà tư tưởng lớn đã từng nói về Việt Nam với những lời lẽ trân trọng, tha thiết như sau.
“Người Việt nhắc nhở chúng ta về những gì vĩ đại nhất của con người. Họ nhắc nhở chúng ta về những điều thiêng liêng nhất, vinh quang nhất, vị tha nhất, anh hùng nhất mà trái tim con người có thể có được. Người Việt nhắc nhở chúng ta về lịch sử của đất nước mình.
Người Việt nhắc nhở chúng ta về những cuộc trường chinh mà chúng ta cũng đã chiến đấu một mình trong mười năm, còn người Việt phải mất 30 năm đấu tranh cho sự độc lập của mình, chống lại một đội quân chuyên nghiệp được trang bị vũ khí tốt nhất vào thời điểm đó chỉ bằng dao phay, súng trường với rất ít đạn dược.


Việt Nam nhắc nhở chúng ta về những điều nhân văn tốt đẹp nhất, tất cả mọi điều ở đất nước này đều rất thân thương, chúng nhắc nhở mọi người nhớ về tất cả những người đã chiến đấu, tất cả những người đã ngã xuống, đã hy sinh cho đất nước của chúng ta”.
Vâng, người Việt chúng ta có thể bằng dao phay, súng trường với rất ít đạn dược được viện trợ để đập tan thực dân Pháp, đánh nhào đế quốc Mỹ xâm lược. Đó là một điều đáng tự hào. Nhưng nói thêm cho các bạn biết, không phải ai cũng dám đương đầu, thậm chí hạ gục một chế độ độc tài chỉ với 20 người đàn ông và 7 khẩu súng trường.
Người làm được điều đó, chính là cố lãnh tụ vĩ đại của đất nước Cuba, chủ tịch Fidel Castro.
Nhắc đến cách mạng Cuba là nhắc đến câu chuyện cổ tích giữa đời thực, về sức mạnh bất khuất của ý chí cách mạng. Fidel, Che … những dũng sĩ với đôi mắt sâu thẳm hoang dã và bộ râu đen rậm, tay họ nắm chặt thanh kiếm chính nghĩa chém đứt gông xiềng nô lệ và khuất phục bầy ác quỷ đang hút máu nhân dân.
Thực dân Tây Ban Nha là quốc gia đầu tiên thống trị Cuba, bắt đầu từ năm 1510. Nhưng thất bại của Tây Ban Nha dưới tay người Mỹ trong Chiến tranh Mỹ - Tây Ban Nha năm 1898 đã không mang lại sự giải phóng mà người Cuba mong đợi, trái lại hòn đảo này sau đó đã biến thành một thuộc địa mới của Hoa Kỳ.
Nhất là khi Batista, người được Washington hỗ trợ từ lên nắm quyền thông qua đảo chính vào ngày 10 tháng 3 năm 1952, ông ta và bè lũ bán nước ngay lập tức hợp tác với Washington và mafia Mỹ hút máu Cuba.
Nếu như Sài Gòn được mệnh danh là “Hòn ngọc Viễn Đông” thì Cuba được gọi tên “Hòn đảo tự do”, nhưng bản chất đều là ổ điếm và nơi ăn chơi trác táng. Chỉ tính riêng tại thủ đô La Habana với vài triệu dân đã có tới vài trăm nhà thổ và 22.000 gái điếm. Nổi tiếng là tệ nạn điếm gái chưa tới tuổi vị thành niên.


Có tới 90% trẻ em mắc bệnh truyền nhiễm. Mafia của Mỹ đã xâm nhập và hoành hành tại đây với các sòng bài, các khách sạn sang trọng. Trong khi đó người nông dân chết đói, 200.000 người dân quê không có ruộng vườn, tài sản của mình và hoàn toàn mù chữ. Cứ một trong ba người Cuba thuở đó không biết ký tên mình trên các giấy tờ.
Các tập đoàn tài phiệt Mỹ kiểm soát 70% kinh tế Cuba. Mỗi năm hàng chục ngàn người bị chế độ Batista thủ tiêu. Mafia buôn bán đất đai và các ngành công nghiệp đã khiến Batista giàu có tới mức dùng điện thoại bằng vàng ròng, tối gối đầu trên những chiếc gối bằng bạc.
Thế là Fidel làm cách mạng. Cuộc sống khốn quẫn, bế tắc tưởng chừng không lối thoát của nhân dân Cuba đã thổi bùng tinh thần phản kháng của Fidel Castro, Che Guevara và các đồng chí của họ. Bên cạnh đó, người dân “Hòn đảo Tự do” ủng hộ Fidel Castro, sẵn sàng chấp nhận mọi khó khăn, thử thách.
Vào ngày 2/12/1956, Fidel và một nhóm 81 chiến sĩ vũ trang đổ bộ lên bờ biển phía tây của Cuba từ con tàu Granma. Đụng độ phải lính của chế độ Batista, tất cả đều bị giết hoặc bị bắt, ngoại trừ anh em Fidel, Che Guevara và 9 người khác. Những người sống sót rút về vùng Sierra Maestra để phát động chiến tranh du kích chống lại chế độ Batista. Cũng tương tự như Mặt trận giải phóng miền Nam, chống lại chế độ Ngụy quyền Việt Nam Cộng Hòa.
Bằng cách nào đó, những người anh hùng đẫm máu rách rưới này đã cố gắng chui ra khỏi những khu rừng già rậm rạp để đánh bại một kẻ độc tài do người Mỹ tạo ra thành từng mảnh và khởi động một cuộc cách mạng vang dội.
Bằng cách nào đó, những người làm cách mạng khi đối diện vối mọi khó khăn, họ vẫn luôn kiên trì. Ngay cả khi họ chết, họ vẫn kiên trì.
Có lẽ, sự kiên gan ấy của những người cách mạng chân chính đã thổi cháy lửa lòng quả cảm của người dân Cuba, giờ đây ngưởi ta không hề sợ chết.
Nhận được sự giúp đỡ ngày càng nhiều của các nhà cách mạng trên hòn đảo này, lực lượng của Fidel Castro giành được một loạt chiến thắng trước quân đội bạc nhược với sĩ quan trình độ yếu kém của chính quyền Batista.
Các thất bại liên tiếp của quân đội Batista cộng với sự tuyên truyền hiệu quả của Castro buộc Batista bỏ chạy khỏi Cuba vào ngày 1/1/1959. Lực lượng du kích chỉ gần 1 ngàn tay súng tinh nhuệ của Fidel Castro đã đánh bại đội quân đánh thuê nhà nghề gần 30.000 người của chính quyền Batista lúc đó. Kể từ thời khắc đó, Cuba chính thức giành được độc lập!
Cách mạng Cuba dường như giống như một thứ gì đó trong sử thi Werner Herzog. Một câu chuyện quá kỳ diệu đến mức hoang đường nhưng lại đã trở thành sự thật, bằng một cách nào đó.

Vâng, bằng một cách nào đó, cách mạng Cuba đã giành được chiến thắng trước loài ác quỷ tham tàn với sức mạnh vượt trội hơn gấp bội. Có lẽ, phương thức để Cuba giành chiến thắng đó là: lý tưởng, ý trí và đạo đức của con người, như Fidel đã tổng kết. Đó là những thứ “Sinh ra từ con người và không thể bị diệt vong với sự ra đi của một cá nhân” - lời Fidel Castro.
Cuba của Fidel không bao giờ gục ngã, không bao giờ đầu hàng trước áp lực. Họ tự vệ khi bị tấn công bởi đế quốc tham tàn nhưng hùng mạnh nhất trên trái đất. Họ sống sót sau tất cả các lệnh cấm vận tàn bạo, tuyên truyền tẩy não, những lời nói dối bị nhiễm độc vô tận, và thậm chí cả chiến tranh sinh học.
Cuba đã truyền cảm hứng cho thế giới bằng quyết tâm và lòng dũng cảm của mình, cũng như đã truyền cảm hứng cho hàng triệu người trên toàn thế giới bằng âm nhạc, điện ảnh và thơ ca. “La Patria no se vende!” - “Tổ quốc không phải để bán!”, đây là một trong những khẩu hiệu vĩ đại nhất của đất nước kỳ diệu này: khẩu hiệu mang một thông điệp rõ ràng đến tất cả các quốc gia bị Đế quốc phương Tây làm nhục và cướp bóc: “Không phải tất cả mọi thứ đều đã mất. Giá trị lớn nhất là tinh thần bất khuất. Thà chết còn hơn đánh mất lòng tự trọng và nhân phẩm!”
Chịu bủa vây cấm vận kinh tế và cô lập về chính trị, Cuba đã gặp rất nhiều khó khăn trong việc phát triển nền kinh tế, họ gần như phải tự thân vận động trên tất cả các lĩnh vực. Tuy đời sống nhân dân còn nghèo, song đất nước Mỹ latin kiên cường này đã đạt được rất nhiều thành tựu đáng nể.
Hiện nay, Cuba có hệ thống y tế đứng hàng đầu thế giới. Về lĩnh vực giáo dục, tỷ lệ người dân Cuba biết đọc, biết viết đạt tới 98%, 100% trẻ em được đến trường và giáo dục – y tế hoàn toàn miễn phí. Cuba hiện là nước có tỷ lệ đầu tư ngân sách quốc gia vào giáo dục cao nhất thế giới, với 13% GDP dành cho giáo dục.
Riêng về Y tế, Cuba đạt được tỷ lệ 130 người dân có 1 bác sĩ. Đồng thời mỗi năm Cuba đào tạo cho hơn 1500 bác sĩ ngoại quốc, với 25000 bác sĩ tốt nghiệp của 84 quốc gia khác nhau. Mỗi năm Cuba gửi 30 ngàn bác sĩ tới hơn 68 quốc gia để thực hiện hơn 600 ngàn nhiệm vụ cứu trợ nhân đạo thế giới.
Về thể thao, Cuba là quốc gia châu Mỹ La Tinh giành được số lượng huy vàng nhiều nhất ở các kì thế vận hội Olympic.
Về xã hội, dù chịu bủa vây về truyền thông song Cuba hiện lên trước mắt bạn như giữa một cơn bão trong những thước video rực rỡ, dẫu tồn tại ngắn ngủi song đã kịp truyền tải được thông điệp của nó.
“Em ạ, Cuba ngọt lịm đường
Mía xanh đồng bãi biếc đồi nương
Cam ngon xoài ngọt vàng nông trại
Ong lạc đường bay rộn bốn phương.”
(Thơ Tố Hữu)
Những mầu sắc lạ lẫm mà bạn chưa bao giờ thấy, tiết tấu của những điệu nhảy, những bài ca, mùi vị quen thuộc của tỏi sống và tỏi phi, mùi thum thủm của cống rãnh trong phố, mùi thuốc lá… Đêm sập xuống, bạn có thể nghe thấy tiếng những chiếc giường gỗ cọt kẹt và tiếng rên rẩm sung sướng của tình yêu. Còn sớm mai tinh mơ là tiếng gọi nhau tới các quán cà phê.
Những người đàn ông Cuba mái tóc đã ngả bạc vẫn luôn luôn sôi nổi, hào hứng khi kể chuyện yêu đương. Họ tất bật, bận rộn tại các quán rượu hay trong những vòng nhảy tại các bãi discotec. Tình yêu và tình dục ở xứ sở này không bao giờ bị gạt đẩy sang lãnh vực đạo đức.
Một đất nước dẫu còn nghèo song tràn ngập niềm vui, hẵng còn thiếu thốn song rất giầu tình cảm, Cuba - hòn đảo tự do thực sự!
Nhưng Cuba vẫn luôn hết sức khiêm nhường, hòn đảo tự do này luôn hành xử như một người cộng sản chân chính. Đặc biệt với Việt Nam, Cuba là người bạn tuy cách nửa vòng trái đất song vẫn luôn dành tặng Việt Nam những gì tốt đep nhất.
“Không có phong trào giải phóng nào, không có ở đâu những con người chiến đấu cho độc lập tự do của họ, lại phải chịu đựng nhiều đến như vậy trong một thời gian dài, với một tinh thần bất khuất như người dân Việt Nam”, vị Tổng Tư Lệnh của Cách mạng Cuba đã nói như vậy vào ngày 12 tháng 9 năm 1973, trong chuyến thăm đầu tiên của ông đến một đất nước châu Á.


Vâng, đó là phát ngôn bất hủ của Fidel Castro Ruz, nguyên thủ đầu tiên và duy nhất trên thế giới đến thăm Việt Nam trong thời gian chiến tranh. Và đặc biệt hơn, kẻ thù của Việt Nam khi ấy vẫn là Mỹ - đế quốc lang sói luôn tìm mọi cách để ám sát Fidel bằng mọi giá.
Thế là để bảo vệ tuyệt đối bí mật và an toàn của Fidel Castro, trên phương tiện thông tin đại chúng, chúng ta thông báo cuộc hội đàm giữa 2 đoàn Việt Nam và Cuba diễn ra ở Hà Nội vào ngày 15/9/1973. Nhưng cũng chính vào thời gian đó, một chiếc chuyên cơ đưa 2 nhà lãnh đạo là Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Chủ tịch Fidel cất cánh từ sân bay Gia Lâm vào Đồng Hới, Quảng Bình.
Cụ thể hơn, đó là vào 15/09/1973, tại tỉnh Quảng Trị, Việt Nam. “Vùng đất thép” vẫn nồng nặc mùi thuốc súng, sự tàn bạo của chiến tranh vẫn hiển hiện. Người Việt Nam vẫn đang phải chiến đấu vì quyền độc lập và tự do của dân tộc, nhưng Quảng Trị đã là lãnh thổ tự do. Và Fidel, mang theo cả đất nước Cuba, đã đến vùng đất đó để đồng hành với Việt Nam.
Khi đến thăm Cao điểm 241 Tân Lâm, Chủ tịch Fidel Castro đã phất cao lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và dõng dạc hô to: “Các đồng chí hãy mang lá cờ bách chiến bách thắng này cắm tại Sài Gòn!”, “Hẹn gặp lại tại Sài Gòn sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng!”
Hình ảnh của vị nguyên thủ quốc gia hiên ngang sải bước trên con đường mới được giải phóng ở Quảng Trị, phất cao lá cờ bách chiến bách thắng của Quân giải phóng miền Nam tại cuộc mít tinh ở Căn cứ 241 gần Dốc Miếu, Đông Hà cho đến nay vẫn khắc sâu trong trí nhớ của nhiều thế hệ người dân Việt Nam.
Và cũng chính tại đây, Chủ tịch Fidel Castro đã nhắc lại tuyên bố lịch sử: “Cuba ở một bên Mỹ nhưng đã làm cách mạng thắng Mỹ và Việt Nam cũng thế, nhất định sẽ thắng. Máu của Cuba sẵn sàng đổ cho nhân dân Việt Nam giành thắng lợi'.
Ngày nay, tôi vẫn buồn phiền với một bộ phận thế hệ trẻ theo chủ nghĩa “duy lợi”, đối với họ luôn chỉ có lợi ích, mọi thứ người ta làm đều vì lợi ích. Họ tin rằng Cuba giúp đỡ Việt Nam cũng chỉ vì lợi ích, đó là giúp đỡ “kẻ thù của kẻ thù” để tự cứu mình, chứ không hề tin vào tình đồng chí gắn bó không hề vụ lợi toan tính giữa những người Cộng sản chân chính.
Quả thật, Cuba nói được làm được, thậm chí họ đã dâng hiến cả máu của mình cho Việt Nam rồi, thời điểm ấy chúng ta bốn bề khó khăn bủa vây, nào có gì để có thể trả nợ ân tình cho Cuba kia chứ!
Nên nhớ, ngay sau khi giành được độc lập, điều đầu tiên chính quyền non trẻ của Fidel Castro làm đó là thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam vào năm 1960, và ông tuyên bố sẽ hết lòng giúp đỡ nước ta trong công cuộc đánh đuổi quân Mỹ xâm lược.
Năm 1964, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam bước vào giai đoạn ác liệt nhất, Anh hùng Núp (tên thật là Đinh Núp) được Đảng, Nhà nước Cuba mời sang thăm. Sau đó, khi chia tay, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Cuba, Thủ tướng Chính phủ Cách mạng nước Cộng hòa Cuba Fidel Castro đã gửi tặng Chủ tịch Hồ Chí Minh một hộp xì gà, đặc sản của Cuba và nhờ Anh hùng Núp mang về giúp. Fidel Castro cũng nhờ Anh hùng Núp về thưa với Chủ tịch Hồ Chí Minh rằng: Trong cuộc chiến đấu mới này, Việt Nam cần gì đã có Cuba bên cạnh.
Quả thật, F.Castro đã giữ đúng lời hứa của mình. Giữa lúc đế quốc Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc, trực tiếp ném bom vào các bệnh viện trường học, Hà Nội chúng ta ở vào tình thế hết sức ngặt nghèo. Thế là nhiều bác sĩ, nhân viên y tế Cuba đã sang giúp chữa trị cho các thương binh và người dân bị nạn.

Bất chấp sự phong tỏa bằng bom đạn của đế quốc Mỹ, các tàu Cuba vẫn cập cảng Hải Phòng vận chuyển hàng trăm ngàn tấn đồ cứu trợ của nhân dân Cuba giúp nhân dân Việt Nam. Đồng thời, Cuba cử chuyên gia về cầu đường sang tham gia cùng bộ đội Trường Sơn mở rộng đường mòn Hồ Chí Minh, giúp đào tạo hơn hàng ngàn sinh viên Việt Nam ở trình độ đại học và cao học, vận động ủng hộ Việt Nam gia nhập Liên hợp quốc.
Cuba là nước đầu tiên công nhận Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và mời đặt cơ quan đại diện thường trú của mặt trận tại La Habana. Sau đó, Cuba đã cử đại sứ bên cạnh Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam tại vùng giải phóng. Cuba cũng là nước đầu tiên thành lập Ủy ban Cuba đoàn kết với miền Nam Việt Nam (23-9-1963) do nữ Anh hùng Moncada Melba Hernandez sáng lập.

Đây là sự ủng hộ về mặt quốc tế rất cần thiết cho sự nghiệp đấu tranh chống Mỹ của nhân dân miền Nam khi ấy. Bên cạnh đó, hằng năm, Cuba giúp Việt Nam ba vạn tấn đường, và nhiều lúc nước bạn đã bán số đường đó lấy ngoại tệ để gửi cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.
Ngày 2/1/1966, khi nhân dân Việt Nam đang trải qua giai đoạn cam go nhất của cuộc đụng đầu lịch sử với đế quốc Mỹ, trong cuộc mít tinh có hơn 1 triệu người Cuba tham dự và khách mời của các nước đến từ ba châu: Á, Phi, Mỹ Latinh, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Cuba, Thủ tướng Chính phủ Cách mạng nước Cộng hòa Cuba Fidel Castro tuyên bố: “Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình”. Sau đó, hàng nghìn thanh niên Cuba đã viết đơn tình nguyện xin đến Việt Nam để sát cánh cùng nhân dân Việt Nam đánh Mỹ.
Cũng trong chuyến thăm lần đầu tiên vào năm 1973 này, Fidel Castro và nhân dân Cuba anh em đã tặng Việt Nam 5 công trình kinh tế-xã hội vào loại tầm cỡ lúc bấy giờ với tổng trị giá trị (theo thời giá bấy giờ) khoảng 80 triệu USD, gồm: Khách sạn Thắng Lợi (tại Hồ Tây, Hà Nội); Bệnh viện Việt Nam-Cuba (tại Đồng Hới, Quảng Bình); đường Xuân Mai; Trại bò giống Ba Vì; Xí nghiệp gà Lương Mỹ.
Chiến tranh biên giới 1979 nổ ra, Cuba tuyên bố ủng hộ Việt Nam chống Trung Quốc bành trướng đồng thời tuyên bố sẵn sàng gửi quân sang Việt Nam nếu cần thiết.
Từ giai đoạn 1980-1990, Việt Nam bị cấm vận, Cuba là một trong số ít quốc gia viện trợ thuốc men, vacxin, lương thực cho Việt Nam, giúp đỡ một cách vô tư, trong sáng nhất.
Những kẻ theo chủ nghĩa tư lợi sẽ không bao giờ tin tưởng, hoặc có thể lý giải điều này!
Bất chấp truyền thông Mỹ và phương Tây bôi nhọ, vu cho ông là độc tài khát máu, là mối đe dọa đến nền hòa bình của thế giới, thì người dân Cuba vẫn luôn dành cho ông sự kính trọng tuyệt đối.

Để chống lại luận điệu xuyên tạc của kẻ thù, trong hơn 50 năm Chủ tịch Fidel Castro đảm nhận cương vị nhà lãnh đạo tối cao của Cuba, đã có hàng chục nghìn bức tranh cổ động ra đời nhằm truyền tải thông điệp về một con người giản dị và vĩ đại, cả cuộc đời cống hiên cho sự nghiệp giải phóng dân tộc Cuba và xây dựng XHCN.
Sau khi Fidel Castro mất đi, dân Cuba có một thông lệ, trong mỗi chặng hành trình hiểm nguy thì họ đều mang theo di ảnh của ông như một sự tự hào, rằng trong suốt chặng hành trình đều có Fidel tiếp sức.
Trong khi dịch Covid-19 bùng phát trên khắp thế giới, Cuba điều nhân viên y tế đến hàng chục quốc gia khác để “chung tay” với thế giới chống dịch Covid-19, nhưng họ bị đám đế quốc sài lang chỉ trích rằng xuất khẩu nhân viên y tế để thu ngoại tệ.
Bỏ ngoài tai những lời vu khống hèn hạ, Cuba vẫn không ngừng thực hiện nhiệm vụ cứu trợ quốc tế của mình. Hình ảnh các y bác sĩ ôm di ảnh Fidel chụp hình trước giờ “xuất trận” khiến hàng triệu người dân yêu hòa bình trên thế giới xúc động.
Như thế, Cuba không cần thanh minh, hành động cao đẹp của họ đã khiến cả thế giới nể phục. Nó khiến chúng ta nhớ lại bài diễn thuyết nổi tiếng “Lịch sử sẽ giải oan cho tôi” của F.Castro khi ông bị chính quyền độc tài Batista kết án 15 năm tù vì tội bạo loạn lật đổ.
Fidel luôn vững vàng đi đầu trong đấu tranh, ngay từ khi còn trẻ cho đến khi trút hơi thở cuối cùng và truyền cảm hứng cho những người đồng chí của ông lẫn cả thế hệ trẻ đi sau.
Khi Hugo Chavez đứng dưới mưa, đầu trọc lốc sau khi hóa trị, nắm chặt tay trong tư thế anh hùng thách thức, và hét vào mặt kẻ thù của cuộc cách mạng “Ở đây không có ai đầu hàng!”, rõ ràng là nguồn cảm hứng ấy đến từ đất nước Cuba và Fidel Castro.
Bởi đơn giản, Fidel và Cuba là biểu tượng không thể khuất phục!

ĐĂNG BÌNH LUẬN

Mới hơn Cũ hơn